Thứ Tư, 30 tháng 12, 2015

GƯƠNG NHÂN QUẢ: QUẢ BÁO NẶNG NỀ ĐỜI NÀY LÀ DO ĐỜI TRƯỚC GIEO OÁN THÙ QUÁ SÂU!


Trước đây tôi luôn cho rằng câu chuyện này là kịch bản hư cấu nổi tiếng do Quan Hán Khanh sáng tác, nào ngờ lại là chuyện thật.
Bảy, tám năm trước thông qua một tu sĩ trong “Vạn Phật Thành”, tôi được đến Đài Loan nghe Trương giáo sư thuật lại tỉ mỉ các việc lạ lùng bà đã trải qua.
Ba mươi năm trước bà làm công tác từ thiện tại Đài Loan, chuyên tư vấn tâm lý, là người tiên phong vực dậy trào lưu tốt cho xã hội, vì vậy mà các uỷ viên công tác từ thiện ở Đài Loan đều gọi bà là “Trương giáo sư ". Tôi biết tên thật của bà, nhưng ở đây chúng ta cứ gọi bà là Trương giáo sư.
Hiện nay Trương giáo sư đang ở Mỹ, tôi có điện thoại trò chuyện cùng bà, bà là cư sĩ tu tại gia, ăn chay trường, nói năng cẩn trọng, chuyên trì “chú Đại Bi” và niệm Phật, thường đi khắp nơi truyền bá Phật pháp. Hiện nay bà hơn 70 tuổi.
Trước khi kể chuyện mình, Trương giáo sư đã mở đầu như sau:
“Những việc xảy ra cho tôi có nhiều linh dị, tôi nghĩ không phải ai cũng gặp chuyện giống như mình. Nhưng chẳng thể vì các vị không gặp những chuyện này mà vội kết luận rằng đây là hoang đường không có thực!
Khi nghe xong câu chuyện của tôi, các vị muốn phê phán sao thì tuỳ, tôi không dám có ý kiến. Nhưng tôi kể hoàn toàn trung thực, quyết không hề vọng ngữ, về điểm này xin hãy tin tôi”.
Đây là câu chuyện nhân quả báo ứng tuyệt hay mà bút giả may mắn được nghe chính miệng Trương giáo sư kể ra, thiết nghĩ những người giữ chức vụ cao, nắm quyền sinh sát trong tay cũng nên xem, sẽ rất có ích. Giờ xin ghi lại chia sẻ cùng quý vị:
“Trương giáo sư vào đại học muộn (do sinh con rồi mới thi), tốt nghiệp lúc 33 tuổi (lúc này bà đã có ba con trai).
Năm 33 tuổi, vào tháng 05 bà phát hiện mình mang thai, dự tính sẽ lâm bồn đúng vào ngày sinh nhật 34 của mình. Khi mẫu thân bà hay tin này thì kiên quyết yêu cầu bà phá thai. Thấy mẹ mình xưa nay tin thờ Phật, lại ăn chay nhiều năm, luôn giữ giới bất sát nghiêm ngặt. Nhưng vì sao bây giờ lại yêu cầu mình phá thai? Bà Trương cảm thấy rất kỳ quái, dù có gặng hỏi đến mấy, mẫu thân vẫn không chịu giải thích nguyên nhân.
Khi Trương giáo sư mang thai, xảy ra hiện tượng rất lạ. Thứ nhất: trong người bà khó chịu khiến phải thường xuyên đập đầu vào tường. Thứ hai: Khi nôn oẹ thì cứ đòi chồng và ba con trai phải đánh mình, còn buộc họ phải dốc hết sức mà đánh (có vậy bà mới thấy dễ chịu). Nếu chồng và con không chấp nhận, thì bà liền trở mặt với họ. Đây là hiện tượng kỳ quái mà những lần mang thai trước bà chưa hề bị qua.
Khi bà Trương mang thai đến tháng thứ tư, thì bạn của thân mẫu bà là một tu sĩ ở Đài Trung có việc đến Đài Bắc nên tiện đường ghé thăm nhà họ. Mỗi lần gặp vị tu sĩ này Trương giáo sư đều đảnh lễ. Lần này bà Trương lễ rồi, lại xin lễ thêm một lần nữa.
Sư hỏi:
- Vì sao lại muốn đảnh lễ ta thêm nữa?
- Dạ, đó là con lễ thay cho hài nhi trong bụng.
Vị Sư hoan hỉ nói:
- Được rồi, ta thu nhận bé. Nếu đã muốn cho cháu làm đồ đệ ta thì sau này có xảy ra chuyện gì, nhớ cho ta hay.
Khi thai nhi được sáu tháng, ngày nọ mẹ của Trương giáo sư muốn ăn một món chay ngon mà tiệm ăn lớn ở Đài Bắc mới có bán. Trương giáo sư là người con chí hiếu, luôn muốn làm mẹ vui lòng nên ráng sức đi mua. Khi bà ra khỏi nhà, bước lên xe buýt rồi, lạ một điều là người trên xe đều thấy bà mang cái bụng to thù lù, nhưng chẳng ai muốn nhường chỗ ngồi cho, thậm chí có kẻ còn vờ nhắm mắt lại để khỏi phải thấy và không ai thèm để ý tới bà.
Vì vậy Trương giáo sư phải đứng suốt. Bỗng nhiên xe tông phải vật nặng, thắng gấp, khiến bà té nhào, dẫn tới động thai; phải chở đi cấp cứu.
Tối đó bà đau bụng dữ dội, lúc này thai nhi chỉ mới hơn sáu tháng, nhưng bà đã sinh non. Bé tuy hình dáng còn rất nhỏ, nhưng có thể nhìn ra đây là một bé trai vô cùng xinh đẹp, tuấn tú.
Bác sĩ bảo do hài nhi sinh quá sớm, họ đã làm hết sức mình, nhưng có cứu sống được bé chăng thì không dám bảo đảm, vì vậy Trương giáo sư đừng quá kỳ vọng…
Trương giáo sư hết sức tự trách, giận mình không chịu an phận ở nhà để con trẻ được bình an sinh ra. Hiện tại bé chỉ có thể nằm trong lồng kính, bà rất mong Phật Bồ tát sẽ gia trì cứu bé. Bỗng bà sực nhớ đến vị sư cách đây không lâu đã ghé qua nhà bà, nên gọi điện báo cáo:
- Thưa sư, con đã sinh rồi, em bé còn quá nhỏ. Nhưng con hy vọng có thể cứu được nó.
Sư hỏi:
- Con muốn cứu nó ư? Tốt! Vậy hãy làm theo yêu cầu của ta. Từ hôm nay hãy bắt đầu ăn chay trăm ngày, con thường tụng kinh gì?
- Dạ con chuyên tụng “Bạch y thần chú” ạ.
- Được rồi, thế thì con cứ tụng chú này, nhưng phải tụng một vạn (10.000) biến nhé, nếu muốn cứu cháu ngay thì buông điện thoại xuống là tụng ngay đi!
Lúc này Trương giáo sư đang ở bệnh viện, nghe sư phụ dạy như vậy thì vội tụng Bạch y thần chú không ngừng. Ngoại trừ lúc ngủ nghỉ ra, thời gian còn lại đều tụng suốt.
Không bao lâu bệnh viện bảo Trương giáo sư có thể về nhà. Về nhà rồi hằng ngày bà ở trước Phật tụng chú. Ngày ngày đều như thế.
Khi bé được một tháng, tối đó bà bỗng thấy ác mộng: Trong mơ đứa bé cứ kéo lôi bà, bà cũng giằng lại. Bỗng bà buông tay ra, mặt đứa bé đen thui. Bà giật mình tỉnh giấc, nghĩ điềm mộng này ắt chẳng lành, bèn bảo chồng gọi điện đến bệnh viện hỏi thăm xem con thế nào rồi? Lúc này đã 3 giờ sáng.
Chồng bà ngại nên chưa gọi điện, trong lúc ông do dự thì bệnh viện đã gọi tới báo tin đứa bé vừa qua đời lúc ba giờ khuya.
Trương giáo sư nghe vậy thì bật khóc.
Sáng ra, khoảng hơn 6 giờ, vị sư ở Đài Trung đã bao xe đến nhà họ. Vừa vào cửa, sư liền bảo:
- Chúc mừng bà!
Trương giáo sư ngơ ngác, thầm nghĩ: “Thằng bé con mình vừa mất, sao sư lại chúc mừng?”…
Nhưng sư đã lên tiếng hỏi:
- Phải chăng hài nhi ra đi lúc ba giờ sáng?
Trương giáo sư rất kinh ngạc, nói:
- Sao ngài biết được?
Sư kể rõ nguồn cơn:
- Hồi hôm nay (khoảng 12 giờ khuya), đứa bé ấy đến từ biệt sư. Nó nói: Con vốn muốn đem bà ấy đi, nhưng hiện tại vô phương đoạt mạng bà. Bởi vì bà đối với mẫu thân một bề hiếu thuận, mẹ bà muốn ăn chi, bà dù mang thai cái bụng to thè lè cũng ráng đi mua đồ cho mẹ và do bị gặp tai nạn xe như thế, khiến con không đủ khí lực để sống trong bụng bà. Con vốn định vào đúng ngày sinh nhật (34 tuổi của bà) sẽ bắt bà đi.
Sư hỏi:
- Con theo bà rốt cuộc là có oán thù gì?
Bé đáp:
- Đây là mối thù truyền kiếp. Cách đây nhiều đời bà ấy từng là tham quan, đã phán án sai, khiến con bị chết oan. Vì vậy con để bà từ lúc hoài thai là bắt đầu bị hành hạ, chính là trả mối thù lúc con bị tra tấn trong ngục. Con khiến bà húc đầu vào tường, kêu chồng, con… đánh đập mình, là để rửa mối hận lúc con ở trong ngục thọ cực hình tàn khốc.
Nhưng hiện tại, từ lúc bà sinh con ra rồi thì không ngừng niệm Phật, do bà niệm Phật, nên chung quanh bà luôn được Phật Bồ tát che chở chúc phúc, vì vậy con vô phương tiếp cận, không có cơ hội để bắt bà đi. Do trong nhà bà có Phật đường, con không cách chi vào được, vì trong nhà bà luôn được các tôn tượng Phật bảo hộ che chở cho nên hiện tại con không đủ sức, có muốn kéo bà đi cũng không được, đành phải bỏ đi.
Pháp sư bảo Trương giáo sư, bà không nên lưu luyến đứa bé này, nó đến là để báo thù, muốn đoạt mạng, bắt bà đi…
Nghe vậy, lúc này mẫu thân của Trương giáo sư mới kể ra việc khuất tất trong dòng họ:
Dòng họ Trương giáo sư phát sinh chuyện rất kỳ lạ. Ông nội, ông cố, phụ thân bà đều đúng ngày sinh nhật năm 36 tuổi thì tạ thế. Điều này xảy ra liên tục suốt 5 đời, các trưởng nam của dòng họ đều vô phương sống quá 36 tuổi, số mệnh họ cứ đúng ngày sinh nhật 36 là lìa nhân gian. Còn phía con gái thì các trưởng nữ cứ đến sinh nhật 34 là tạ thế, không ai thoát khỏi…
Chuyện này mặc dù mẫu thân bà biết rất rõ, nhưng không dám nói cho Trương giáo sư nghe, vì sợ con mình sẽ bị kích động, bởi vì Trương giáo sư cũng là trưởng nữ.
Đây là lý do vì sao mẹ Trương giáo sư kiên quyết muốn bà phá bỏ thai đi.
Trương giáo sư có ba trai, mỗi mỗi đều ưu tú, nhất là cậu cả, tốt nghiệp đại học xong thì đi Mỹ du học, sau đó thành gia lập nghiệp. Hai năm trước Trương giáo sư từ Mỹ sang thăm con trai thứ hai và trai út tại Đài Loan thì bỗng nhận được điện thoại báo tin cậu cả đang tắm bỗng bị ngạt thở, hiện đang cấp cứu. Khi bà về đến Mỹ thì cậu cả đã qua đời.
Điều này đối với bà như sét đánh ngang tai, khiến bà suy sụp, té xỉu. Nhờ mẫu thân khuyên giải nên bà ráng nén đau đớn để lo xong 49 ngày cho con. Lúc này hầu như bà đêm ngày đều khóc, ai an ủi cũng vô dụng.
Con trai út của bà cũng tới Los Angeles, thậm chí phải nghỉ công tác để khuyên dỗ mẹ nguôi sầu. Trương giáo sư cũng hy vọng mình có thể thoát ra khỏi nỗi đau, thế là bà nảy ý đến một ngôi chùa mà thuở giờ chưa từng ghé qua, hy vọng Phật Bồ tát có thể giúp tâm tư bà bình ổn lại.
Từ mười năm trước, Trương giáo sư đã biết có ngôi chùa này, nhưng chưa bao giờ đến viếng. Hôm đó bà đi cùng chồng và con trai út, vừa vào cửa thì thấy trong Phật đường có hai người: Một vị là pháp sư Hương Cảng, một vị là cư sĩ tại gia. Vị tu sĩ Hương Cảng vừa thấy bà Trương thì nhìn chăm chăm, mà Trương giáo sư lúc đó hễ thấy người thì khóc, pháp sư liền hỏi nguyên nhân, biết việc rồi, ông luôn mồm bảo Trương giáo sư:
- Bà yên tâm, tôi sẽ lo giúp cho bà.
Tuy mới gặp nhau lần đầu, nhưng pháp sư xin số điện thoại của bà và hẹn ngày mai gặp. Sau đó mỗi tuần ông đều hẹn gặp và trò chuyện cùng bà, ông thường nói: “Thế gian vô thường, luôn có sinh ly tử biệt”… mục đích là để an ủi cảnh tỉnh bà, nhưng bà chẳng thể nào thoát ra khỏi vực thẳm khổ sầu.
Thực sự thì cả đời Trương giáo sư chưa làm điều gì đáng thẹn với lương tâm, tại Đài Loan bà một bề tham gia công tác từ thiện xã hội, giúp đỡ biết bao người, không hiểu sao lại gặp phải cảnh này?
Một hôm pháp sư gọi điện cho bà, mời bà đến rồi bảo:
- Tôi rất muốn giúp bà, nhưng phải đúng bệnh cho thuốc. Nhưng tôi tra không ra nhân quả khuất tất nên vô phương giúp bà. Tôi có thỉnh một tượng Quan Thế Âm từ Đại Lục, hiện để tại Phật đường của mình, bà có thích Bồ Tát Quan Thế Âm chăng?
- Dạ con từ nhỏ đã rất ngưỡng mộ Bồ tát Quan Thế Âm ạ!
Pháp sư bảo:
- Tôi sắp thế này, để thỉnh Bồ tát Quan Âm về nhà, trước tiên bà hãy đi mua 66cm vải vàng, hai bó hoa cúc, cùng hoa trái đèn hương… rồi sáng mai đến thỉnh…
Hôm đó bà cùng con trai đi đến tiệm vải để chọn. Trong đây vải vàng rất nhiều, bà do dự chẳng biết mua loại nào thì bỗng thấy một khúc vải rất đặc biệt, liền cầm lên chuẩn bị trả tiền. Bà chủ tiệm nói:
- Khúc vải này không bán, bởi vì nó ít quá. Mua về cũng không thể dùng làm gì. Trương giáo sư liền đo xem, kết quả vừa đúng 66cm, thế là bà mua ngay. Bà đi qua hàng hoa, tiệm còn đúng hai bó hoa cúc, bà mua luôn và hôm sau đi thỉnh tượng Quan Thế Âm về nhà.
Từ đó trở đi trải qua hai tháng hơn, Trương giáo sư vẫn cảm thấy rất thống khổ, ngày ngày rửa mặt bằng nước mắt, lần nọ bà đến chỗ pháp sư, ông nói:
- Tôi nhất định phải tra cho rõ nhân quả của bà, chuyện bà không giống như người bình thường, tôi phải dùng cách thức đặc biệt để giúp bà.
Rồi ông đưa bà một tờ giấy đỏ và một bao thư, nói:
- Trên tờ giấy này bà hãy viết ra: Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ.
Thấy bà ngơ ngác, ông giải thích:
- Kim: Là viết về gia thế, gốc gác xuất sinh. Mộc: Là viết về bạn bè, công việc. Thuỷ: Là viết ra tên họ toàn gia. Hoả: Kiếp này bà có oan khuất gì? Thổ: Bà có nguyện vọng gì? Thế nhưng cần chú ý một điểm, tuyệt đối không được cho bất kỳ ai xem qua, bao gồm cả chồng, con bà và ngay cả tôi nữa.
Viết xong rồi thì tại ngày, giờ, tháng, năm… đó, đối trước phương hướng đó… đọc năm lần, liên tục ba ngày đọc tổng cộng 15 lần. Xong đem đốt đi rồi bỏ tro vào bao thư này, đặt dưới gối nằm. Trương giáo sư làm y theo lời thầy nói, viết tổng cộng hơn 1.600 từ, đọc đủ 15 lần, rồi đốt đi, bỏ vào bao thư, đặt dưới gối.
Được một tuần, pháp sư gọi điện cho bà, hỏi:
- Trong thời gian này không có hiện tượng gì phát sinh ư?
Trương giáo sư đáp:
- Dạ không ạ.
Đến ngày thứ mười, thầy gọi điện tới nói:
- Chúc mừng bà, tôi đã tra rõ nhân quả của bà, giờ hãy mau đến chỗ của tôi.
Con trai út bà cũng đồng đi với bà.
Đến chỗ pháp sư, bà thấy trên bàn ông đặt một tờ giấy vàng rất lớn, trên ghi chi chít chữ.
Pháp sư nói:
- Đêm qua tôi ngồi tĩnh toạ suốt đến sáng, cuối cùng từ trong thuỷ đàn đã tra được hết rồi. Nghĩa là trong nước hiện chữ gì tôi đều chép ra, phải mất mấy tiếng mới chép xong, tất cả tôi đều ghi hết trong tờ giấy này. Bà xem xong thì sẽ hiểu ngay.
Sau đó pháp sư bảo bà:
- Còn có hai tên cho bà xem đây, bà vừa nhìn liền nói:
- Hai người này đương nhiên con biết, bọn họ đến đòi nợ con.
Pháp sư nói:
- Có phải bà rất hận hai người này?
- Dạ đúng.
Pháp sư nói:
- Bà không nên hận họ, bởi vì đời trước bà nợ họ, đừng hận nữa. Việc gì cũng đều có nhân quả của nó.
- Tiếp đến pháp sư đưa tờ giấy vàng cho bà đọc và nói:
Khi đọc đoạn thứ nhất, lòng bà sẽ hết sức sợ hãi, nhưng đọc đến đoạn hai, bà sẽ rất kinh ngạc, lúc đọc đến đoạn thứ ba, bà cảm thấy an ủi vô cùng.
Thế là bà bắt đầu đọc tư liệu, rất dài: Vì cả trang giấy to lớn ghi rõ hết chuyện đời trước của bà. Điều đáng ngạc nhiên là, câu chuyện nhân quả báo ứng này cũng giống như vị pháp sư Đài Trung từng kể 19 năm trước, nhưng ở đây ghi cụ thể tỉ mỉ hơn, có tên họ hẳn hoi:
Đây là câu chuyện “Đậu Nga kỳ án” nổi danh trong lịch sử mà ai cũng biết, chuyện hoàn toàn có thật được ghi như sau:
“Trương giáo sư kiếp trước là quan Thái thú Đào Ngột, một tham quan hủ bại, không ác nào mà không làm, ông đã bắt Đậu Nga hạ ngục, xử nàng chết oan. Đậu Nga nhân đây cùng tham quan kết huyết hải thâm thù, phát thệ đời đời sẽ truy tìm báo oán rửa hận, làm cho gia tộc kẻ thù luôn bị cảnh “gia phá nhân vong” (Đọc đoạn này bà sợ đến phát run).
Sơ lược câu chuyện “Đậu Nga kỳ án”:
“Dân nữ Đậu Nga từ thuở nhỏ mồ côi mẹ, phụ thân là một tú tài nghèo tên Đậu Thiên Chương, do muốn lên kinh ứng thí mà không có tiền đi đường nên đã vay nóng số tiền 20 lạng bạc nơi quả phụ họ Thái.
Nào ngờ năm sau do số nợ (lãi suất cao) biến thành 40 lạng, ông Chương vô phương đền trả, đành phải đem con gái là Đậu Nga vừa gán nợ vừa làm đồng dưỡng tức (cô dâu nhỏ được nhà trai nuôi từ bé) cho bà Thái.
Đậu Nga ở nhà bà Thái được 10 năm thì được gả làm dâu họ Thái. Nhưng chưa đầy hai năm, chồng nàng chết đi. Đậu Nga goá bụa đành ở vậy cùng mẹ chồng.
Lúc này, tại Sở Châu có Trương Lư Nhi là một tên lưu manh, hắn hợp cùng lão Trương là cha mình, xúm nhau bắt nạt ức hiếp hai quả phụ nhà họ Thái, ép buộc bà Thái phải lấy lão Trương. Bà mẹ chồng họ Thái vì muốn bảo toàn tính mệnh, bất đắc dĩ phải ưng lão Trương. Nhưng dã tâm Trương Lư Nhi không dừng ở đây, hắn muốn ép Đậu Nga lấy hắn. Đậu Nga cương quyết từ chối, Trương Lư Nhi bèn lập mưu hãm hại nàng.
Hôm nọ mẹ chồng nàng bị bệnh, Đậu Nga nấu canh bổ đem dâng cho bà dùng. Nhưng Trương Lư Nhi đã lén bỏ độc vào canh, thầm tính là trước tiên giết chết bà Thái rồi sau đó ép Đậu Nga thành thân với mình.
Nào ngờ lúc đó bà Thái buồn nôn nên không dùng canh, lão Trương thấy đồ ngon bèn giành lấy ăn sạch. Trong chốc lát thì thuốc độc phát tác, ông ngã xuống, lìa đời.
Việc xảy ra hoàn toàn ngoài dự tính, Trương Lư Nhi muốn hại mẹ kế thành ra giết chết cha ruột. Hắn gian ngoa đổ hết tội cho Đậu Nga và thưa kiện lên quan.
Tri phủ Sở Châu vốn là một tham quan, do nhận nhiều bạc của Trương Lư đút lót, nên đã dùng cực hình bức cung, ép Đậu Nga phải nhận tội. Nhưng Đậu Nga thà bị đánh chết chứ nhất quyết không nhận tội, do vậy Tri phủ bèn chuyển qua tra tấn, đánh đập bà Thái. Thương mẹ chồng, vì muốn cứu bà thoát đòn roi bạo hình, Đậu Nga đành gạt lệ nhận tội.
Thế là nàng bị phán tử hình, bị trói dẫn ra pháp trường. Lúc đó Đậu Nga lòng đầy bi phẫn, nàng chỉ trời đất, trách rằng:
- Trời ơi, ông để kẻ hiền bị áp bức xử oan mà cũng làm trời hay sao? Đất ơi, chẳng biết phân xấu tốt, thiện ngay… mà cũng làm đất hay sao?
Khi đao phủ vung đại đao lên, ánh chớp sáng loè, lúc này Đậu Nga ngước lên trời, đọc to ba lời nguyền, nàng thề rằng:
1. Nếu nàng bị án oan, thì khi đao chém qua đầu thì máu không rơi xuống mà bay thẳng đến bạch kỳ, không cho một giọt máu tươi nào dính vào thi thể nàng trên mặt đất.
2. Trong suốt tháng 06 (đang mùa hạ) trời phải làm tuyết rơi dày ba thước phủ che thi thể nàng.
3. Nàng chết rồi, toàn phủ Sở Châu phải liên tục bị hạn suốt ba năm, để chứng minh là nàng chết oan.
Nàng thề xong, đao phủ vung đao chém, máu nàng quả nhiên bay thẳng lên bạch kỳ, tiếp theo đó là suốt tháng 6 trời giáng đại tuyết phủ che thi thể nàng. Và sau khi nàng chết rồi, Sở Châu bị hạn suốt ba năm.
Ước nguyện của Đậu Nga đã được thực hiện, chứng minh rõ là nàng chết oan. Điều này đã gióng lên lời hiệu triệu kinh thiên động địa: toàn thể bách tính sở Phủ Châu đối với tham quan Đào Ngột vô cùng oán ghét và cực kỳ cảm thông cho nàng Đậu Nga trẻ tuổi chết oan”…
Câu chuyện lịch sử này về sau đã khơi nguồn cảm hứng cho nhiều kịch bản sản sinh, có kịch bản lấy tựa là “Tháng Sáu Tuyết Rơi”, trải qua trăm ngàn năm nay luôn được tán thưởng, tác giả “Quan Hán Khanh” cũng nhờ đó mà nổi danh và được xem như bậc thầy, một nhà soạn kịch tài ba cấp thế giới.
Nhưng trong kịch bản công diễn thì có thêm phần kết cuộc như thế này:
“Sau khi cha Đậu Nga là Đậu Thiên Chương lên kinh thi đậu làm cao quan. Ông phụng lịnh vua đến Sở Châu khảo sát dân tình và phát hiện vùng này bị hạn, suốt ba năm trời không mưa một giọt. Ông thầm nghĩ nhất định là có án oan, nên suốt đêm đó chong đèn tra lại vụ án Đậu Nga. Bỗng ánh sáng loé lên, Đậu Nga xuất hiện, kể rõ oan tình, xin phụ thân chủ trì công đạo.
Đậu Thiên Chương điều tra tỉ mỉ vụ án, cho xử lại và tuyên bố Đậu Nga vô tội, phán tử hình Trương Lư Nhi, cho hành quyết tại Sở Châu. Khi vừa tuyên án xong, trời mưa như trút”…
Khi bà Trương đọc đến đoạn thứ hai, đúng là rất ngạc nhiên, vì vào ngày tháng năm đó… bà đã viết tờ “Thiên biểu” này, (làm y như pháp sư dạy và đốt đi), tất nhiên không để lộ cho ai đọc, nhưng toàn bộ nội dung này pháp sư đã nhận được đủ và chép lại (đúng 1633 từ bà đã viết) giống như photocopy vậy.
Đọc đến đoạn thứ ba, pháp sư đã tra ra và kết luận rằng: “Hiện tại ngay trong đời này, Trương giáo sư chưa từng làm việc gì xấu. Lúc còn ở Đài Loan bà đã giúp đỡ không biết bao nhiêu thanh thiếu niên, nam nữ học tập tốt, khiến họ mở mang trí huệ. Bà là người con hiếu thuận, thờ mẹ hết lòng, việc gì cũng không dám làm trái ý mẫu thân”…
Nhân đây pháp sư khuyên bà hiện tại nên dốc sức sám hối, Ông nói:
- Bà nên chí thành sám hối, chăm chỉ học Phật, tinh tấn tu.
Đọc xong đoạn cuối cùng, bà cảm thấy phi thường an ủi, liền đảnh lễ pháp sư, cảm tạ tất cả những gì ông đã làm cho bà.
Pháp sư vội nói:
- Bà không cần cảm ơn tôi, đúng ra tôi phải cảm ơn bà, bà biết vì sao tôi tới nơi này hay không? Vì nếu tôi chẳng tra ra chuyện nhân quả của bà, thì không được phép về Hương Cảng!
Thấy bà Trương ngơ ngác không hiểu, vị tu sĩ liền giải thích:
- Sư phụ tôi vốn ở Hương Cảng, đã bế quan rồi, đúng lý thì phải “bất vấn nhân gian sự” không lưu tâm tới việc thế gian nữa. Nhưng do trước đây từng thọ ân bà (có lần bà đã cứu ông), mà trong lúc bế quan ông phát hiện bà đang gặp nạn, rất thống khổ… Vì vậy ông sai tôi hãy đem tôn tượng Quan Thế Âm này đến Los Angeles, tìm cho ra bà, nếu tìm không được, thì đừng hòng về Hương Cảng…
Ngày đầu tiên tôi đến đây, chỉ biết đại khái tuổi của bà (dù bà ở rất gần), nhưng Los Angeles rộng lớn thế này, tôi biết đi đâu mà kiếm cho ra?... nên cứ đinh ninh rằng mình khó bề quay về được.
Tôi vào chùa này, hỏi thăm cầu may xem có phụ nữ nào giống như bà… tình cờ ghé qua chăng, nào dè hôm sau thì bà xuất hiện. Tôi vừa gặp bà đã nhận ra ngay: đây chính là người mình đang tìm, đúng là người mà sư phụ buộc tôi đến gặp… Nhưng lúc đó tôi không tiện nói rõ, chỉ biết sốt sắng hứa sẽ giúp bà…
Giờ đây chuyện nhân quả của bà đã tra xong, tôi sẽ mang tư liệu này về Hương Cảng, bởi sư phụ tôi muốn giúp bà, nên ở Hương Cảng hiện giờ đang khai đàn, tổ chức pháp hội “Lễ Vạn Phật” rất trang trọng quy mô.
Bởi vì đây là nợ mạng tiền kiếp của bà, là án oan thiên cổ rất khó siêu độ, phải nhờ đến pháp hội cực kỳ lớn mới mong giải oan được.
Hiện tại bà không cần phải lo nữa, tương lai bà sẽ có dịp đến Hương Cảng đảnh lễ sư phụ. Việc bà cần làm hiện thời là nên sám hối mỗi ngày.
Trương giáo sư, ngay giây phút đó xúc động vì cảm thấy mình tội nghiệp quá sâu nặng, liền từ bỏ công tác đang làm, nguyện dùng những ngày tháng còn lại này, chuyên tâm sám hối”…
Kể xong câu chuyện của mình, Trương giáo sư kết luận:
“Mỗi người chúng ta không nhất định đều phải trải qua những chuyện kỳ dị như thế này, nhưng từ chuyện của người khác, chúng ta cũng có thể rút tỉa được những bài học hay!
Tôi chỉ tiếc mình sám hối quá muộn, nếu có thể, mong các bạn trước hãy lo sám hối, thì những tội nghiệp vốn có tất sẽ được tiêu trừ”.
Biết chuyện Trương giáo sư rồi, bút giả xúc động sâu xa nên không ngại ghi hết ra, hi vọng người hữu duyên có thể nhờ xem câu chuyện này mà tỉnh ngộ, tu sửa thân tâm…
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chân thật của bài văn này, Trương giáo sư hiện đang ở tại Los Angeles, sư huynh của tôi ở Mỹ cũng đã từng kiểm tra và xác nhận đây là câu chuyện hoàn toàn có thực.
Lời người dịch:
Nếu bạn đọc thắc mắc: Bà Trương tạo tội thọ khổ đã đành, tại sao thân quyến cũng rước hoạ lây? Nếu từng xem qua các cuốn sách báo ứng rồi ắt bạn sẽ hiểu là “đồng nghiệp chiêu cảm”! Tham quan Đào Ngột ngày xưa không tạo ác đơn độc mà còn có cả phe cánh của ông. Những quan hệ cấp trên và thuộc hạ cũng có thể biến thành thân quyến đời sau. Cho nên theo luật nhân quả vận hành: “Có thù thì tìm đến báo, có nợ phải đền”. Do vậy mà cả gia tộc bà đều phải nếm cuộc báo thù của Đậu Nga. Tôi đã tìm, dịch thêm câu chuyện “Thái Minh Thông” ở cuốn sách khác, đem sắp vào đây, nhằm giúp độc giả sáng tỏ thêm về lý nhân quả báo ứng, hiểu rằng một người có thể đầu thai tới lui trong dòng tộc thọ báo tương tục…
Khi dịch câu chuyện này xong, tôi rất ngạc nhiên Trương giáo sư hiện đời là một phụ nữ đức hạnh, nhưng kiếp trước lại là tham quan ác độc? (nếu đem so quá khứ và hiện tại thì thấy giống như là hai người khác nhau, tương phản hoàn toàn). Nhưng mà cũng dễ hiểu thôi, tham quan Đào Ngột sau khi xử án Đậu Nga xong, nội việc chứng kiến máu bay lên bạch kỳ, tháng sáu trời làm tuyết, và sau đó hạn hán ba năm… cộng thêm lời dân chúng ta thán, chỉ trích, mắng trách… cũng đủ để ông sợ toát mồ hôi, sinh tâm ăn năn, hối cải tu hành cực mạnh rồi… Và chính nhờ cái tâm sám hối, tha thiết tu sửa mạnh mẽ đó- đã chuyển Đào ngột từ một kẻ ác độc trong kiếp quá khứ thành một kẻ đức hạnh đời hiện tại, kiểm điểm lại, đã thấy ngay trong đời này y chẳng còn mang theo chút thói ác nào được di truyền từ quá khứ - chỉ có kẻ bị hại là hận thù đời đời theo báo mà thôi.
Còn Đậu Nga là cô gái đặc biệt, thông thường các nàng dâu hay nghịch với mẹ chồng, nhưng Đậu Nga thì khác, nàng cư xử rất tốt với mẹ chồng, do không nỡ chứng kiến cảnh bà bị đòn roi, nàng chấp nhận hy sinh nhận tội rồi lãnh án tử hình oan. Có thể nói nàng là người có đức hạnh cho nên mọi lời thề nguyện của nàng đều thành sự thực.
Tôi nhớ đã từng đọc một chuyện của Tây phương (nhưng không biết chuyện này có thực không?) kể về một tử tù bị tuyên án oan, ông đã chỉ vào các nhân vật có chức quyền trong phiên toà, thề rằng mồ ông sẽ không bao giờ mọc cỏ để chứng minh ông bị oan.
Sau đó tại nghĩa trang, các mộ khác đều xanh cỏ, chỉ duy nhất ngôi mộ tử tù này là không bao giờ có cỏ mọc, điều này khiến các nhân vật quyền uy trong toà chột dạ, họ bèn nhờ người mang cỏ đến trồng trên mộ ông, nhưng cỏ chết hết, mộ kẻ bị xử oan vẫn mãi mãi không mọc cỏ… (có vẻ như lời nguyện của những kẻ bị án oan có đức hạnh luôn được thực hiện)…
Thông thường ở thân phận bình dân, khi mà mọi thứ sở hữu đều khiêm tốn, người ta ít có cơ hội tạo lỗi hơn - so với lúc bản thân có chức quyền, địa vị cao- Tôi nhớ tới chuyện công chúa Thăng Hoa trong tập “Báo ứng hiện đời” 1-2: Khi làm công chúa, nàng đoạt chồng của dân nữ và giết người không gớm tay, hễ ai trái ý là nàng giết, tính nết kiêu căng, trịch thượng, quyền uy, ác độc... Nhưng lúc tái sinh làm thường dân, nàng lại rất hiền lành, một con cua cũng không dám giết, thậm chí còn thiết tha niệm Phật cầu cho nó đừng bị chồng sát hại… (Cũng một con người đó, nhưng quá khứ tàn nhẫn ác độc, hiện tại lại hiền lành, tốt nết)… Tất cả những thay đổi này nói chung đều xuất phát từ lòng ăn năn hối cải, nguyện dứt ác tu thiện mãnh liệt… Có lẽ nhờ vậy mà khi tái sinh, những người ác đó đã xoá hết tập quán tệ, chỉ còn lại những nết tốt, hạnh thiện… làm hành trang đem theo qua kiếp sau… đó là điều đáng mừng cho họ. Nhưng không phải ai cũng biết giác tỉnh, sửa đổi mạnh như vậy…
Thật chí lý khi Phật nói tạo si phước (tạo mà không có trí tuệ) là tội nghiệp đời thứ ba! Bởi những phước báu ta tạo quá nhiều, nếu có lên trời hưởng hết rồi cũng sẽ bị đoạ. Còn nếu được ở nhân gian hưởng phúc thì sẽ sinh làm người quyền quý, giàu sang… rồi chính vì những tiền của, quyền lực, tài sắc đó… người ta lại có cơ hội tạo tội nhiều hơn! Cho nên Phật luôn nhắc nhở ta phải tu theo chánh pháp, để đời đời luôn có trí tuệ dẫn lối soi đường, giúp ta không đoạ lạc.
(Trích Nhân quả giải theo Phật giáo - Sưu tầm & biên dịch: Hạnh Đoan)

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015

GƯƠNG NHÂN QUẢ: KHI CÁC NHÀ KHOA HỌC TIN PHẬT.

GƯƠNG NHÂN QUẢ: KHI CÁC NHÀ KHOA HỌC TIN PHẬT.

Tác giả bài viết này là cư sĩ Từ Quang, cả nhà ông đều là những nhà khoa học lỗi lạc. Song thân ông là hai khoa học gia, đồng công tác tại Viện Khoa học Trung Quốc. Sau khi tác giả nghiên cứu Phật giáo, sinh cảm phục và phát tâm quy y Tam Bảo. Chính lòng hiếu thảo và tâm thành ứng dụng Phật pháp của ông đã cứu được mẹ ngay lúc một chân bà đã bước vào quỷ môn quan. Nhờ vậy mà cha mẹ ông hồi tâm, đồng bước vào con đường tu học theo Phật. Câu chuyện này hoàn toàn có thật và rất đáng tin. Mời quý vị xem bài văn tự thuật của ông.
Tháng 02 năm 1989 tôi quy y Phật tại chùa Ngoạ Long ở Tây An với Đại sư Trí Chân. Năm 1991 tôi đến nhậm chức và giảng dạy tại một Cao học nọ ở Bắc Kinh. Hơn 20 năm nay, tôi chuyên giảng dạy đào tạo người, vừa nghiên cứu khoa học vừa tu hành, tuy chưa đủ tinh tấn, nhưng trong sinh hoạt lẫn công tác đã hưởng được nhiều lợi ích thâm sâu.
Trước đây, những chuyện học Phật chiêu cảm ứng vô biên toàn là tôi được nghe các pháp lữ kể, nhưng sau này thì chính tôi đích thân trải qua. Chuyện có thật này phát sinh ngay tại nhà tôi, kỳ lạ và huyền diệu không lường. Vì muốn báo ân chư Phật, Bồ Tát, tôi xin đem việc này thuật lại, mong chư vị Phật tử tăng trưởng thêm lòng tin chân chánh kiên định.
Đầu năm 2008, mẹ tôi bệnh tim và cao huyết áp nghiêm trọng, chưa đầy nửa năm đã bốn lần do tim đập nhanh, ngừng đột ngột mà bị hôn mê ngất xỉu. Có lần ba tôi ra chợ mua đồ, mới vừa rời mẹ tôi ra ngoài chừng nửa tiếng, khi về đã thấy bà té nằm trên đất, dập đầu chảy máu… rồi sau đó dù bà có tỉnh, nhưng không đủ sức bò dậy. Lúc tôi đưa mẹ đến các bệnh viện lớn điều trị, mẹ tôi không còn sức để đi. Bác sĩ khám, thấy tim mẹ tôi đập nhanh, thường bị hồi hộp, hoảng loạn, mạch bị bế và nhảy bất thường. Bác sĩ bảo: “Người già 85 tuổi mà mổ, sẽ nguy hiểm rất lớn, nếu không suy kiệt đến cùng thì cố gắng không phẫu thuật, vì vậy chỉ có thể dùng thuốc để xoa dịu bệnh tình thôi”.
Đến năm 2009, mẹ tôi cứ cách một, hai ngày là phát bệnh, cơ hồ suốt đêm không ngủ được. Bác sĩ cho thuốc trị tim và cao huyết áp nhưng thảy đều vô hiệu. Thế nên tôi thật buồn khi nhìn cảnh mẹ tôi trị bệnh không hiệu quả. Những khi tiết trời thay đổi, bệnh bà càng trở nặng, thậm chí đài khí tượng mới dự báo khí lạnh vừa đến Tân Cương là mẹ tôi đã cảm thấy khó chịu rồi. Thân thể bà suy cực điểm. Ban đêm tim thường bị ngừng đập hoặc nhảy loạn xạ, gây cho bà cảm giác hồi hộp khủng hoảng…
Thứ bảy cuối tháng 5/2009, tôi đến thôn Trung Quan thăm song thân. Cha tôi bảo: “Khí trời mùa hạ oi bức, nung nấu như thế này, e rằng mẹ con không qua khỏi”. Không thể ngồi đó nhìn mẹ chờ chết, trong giây phút nguy cấp tôi nghĩ đến Phật pháp, và muốn ngầm tạo công đức cho mẫu thân. Lúc đó tôi mới thuộc “kinh Kim Cang”. Tôi biết công đức “kinh Kim Cang” vi diệu không thể nghĩ lường, nên quyết định tụng “kinh Kim Cang” hồi hướng công đức cho bà, cầu chư Phật Bồ tát gia hộ bệnh mẹ tôi chuyển tốt. Thế là Chủ nhật tôi bắt đầu tụng, hằng ngày cứ 5 giờ sáng tôi thức dậy tụng một bộ “kinh Kim Cang”, tụng rồi thì hồi hướng hai nguyện:
1. Trước tiên là cầu cho oan gia trái chủ của mẫu thân. (Học Phật hơn 20 năm, tôi biết những bệnh chữa trị vô hiệu đều thuộc về nghiệp chướng, nhất định do oan gia trái chủ tìm đến đòi nợ, quấy nhiễu… Vì vậy rất cần hồi hướng cho những oan gia trái chủ mà mắt phàm không nhìn thấy này). Nội dung hồi hướng đại khái như sau: “Tôi xin hồi hướng công đức tụng ‘kinh Kim Cang” này cho tất cả oan gia trái chủ của mẫu thân, xin chư vị oan gia trái chủ đừng hành hạ giày vò mẹ tôi nữa, tôi biết các vị rất khổ, mẹ tôi cũng khổ. Nhưng cứ quấy nhiễu thế này sẽ khiến đôi bên (lưỡng bại câu thương) đều bị thiệt hại. Giờ đây tôi tụng kinh kim cang xin hồi hướng công đức cho chư vị, cầu chư vị tiêu nghiệp chướng, có thể ly khổ đắc lạc, thác sinh vào cõi lành, mong chư vị phát tâm qui y Tam Bảo, tin và nguyện niệm Phật, vãng sinh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới”.
2. Sau đó tôi hồi hướng cho mẫu thân như sau: “Nguyện mẹ con nghiệp chướng tiêu trừ, phúc huệ tăng trưởng, khang kiện trường thọ, phát tâm tin và nguyện niệm Phật, sau khi mãn báo thân này, vãng sinh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới”. Tôi tụng một tuần, xong bảy bộ “kinh Kim Cang”. Bởi lúc tụng vào khoảng 5 giờ sáng, sợ làm ảnh hưởng giấc ngủ người thân nên tôi chỉ tụng thầm, lúc tụng Văn hồi hướng cũng niệm thầm, trong tâm tưởng rõ ràng từng biến, chỉ là không đọc ra tiếng. Nhưng mà chuyện tụng “kinh Kim Cang” hồi hướng cho mẹ này, tôi tuyệt chẳng hé răng nói với mẹ hay bất kỳ ai hết.
Sau một tuần, tôi đi Trung Quan thăm song thân, khi tôi hỏi thăm bệnh tình của mẹ, phụ thân tôi tỏ vẻ hưng phấn nói: Thật may, cả tuần nay tim và huyết áp của mẹ con đều ổn cho nên hằng ngày bà ngủ rất ngon. Liên tục 7 ngày mà không phát bệnh, đây là việc chưa từng có gần một năm nay. Nghe vậy tôi khấp khởi mừng, thầm đoán rằng chuyện mình tụng kinh cho mẹ đã có tác dụng… Thế là tôi kể cho mọi người nghe sự tình, ai nghe xong cũng kinh ngạc, đồng cho là vi diệu không thể lường!
Sau đó mẹ mới khai ra chuyện bà giấu diếm bấy lâu, tôi nghe càng chấn động dữ. Mẹ tôi thổ lộ rằng trước đây bà sợ nói ra cả nhà sẽ không ai thèm tin nên đành im lặng. Số là gần một năm nay, tối nào bà cũng bị huyết áp tăng cao, tim mệt cực kỳ, ngủ không được, hơn nữa còn luôn nhìn thấy có người đi qua lại trong nhà. Mẹ tôi nhấn mạnh là bà không hề nằm mơ, vẫn hoàn toàn tỉnh táo, vậy mà luôn nhìn thấy đám người đó! Tôi hơi hoảng, hỏi liền:
- Họ ra sao? Mẹ đáp: - Họ có đủ nam nữ, tuổi tương đối lớn… - Thế hình dáng thế nào?
- Đa số mẹ không nhìn rõ mặt mày. Không chỉ có vậy, vào nửa khuya mẹ còn nghe tiếng phụ nữ khóc lóc. Có lần còn bị một ông to lớn cường tráng, tướng mạo hung dữ nhào đến chụp cánh tay mẹ, mẹ giằng lại, thoát ra…
Mẹ giải thích: - Bởi vì sợ thấy đám người này nên mỗi tối ngủ mẹ đều không dám quay mặt ra ngoài. Nhưng dù có nằm quay vô vách, thì lần nọ, trước mặt mẹ cách chưa đầy 30cm bỗng xuất hiện một kẻ vừa già, vừa xấu, cực kỳ dơ bẩn hôi tanh… đến nỗi mẹ phải nôn thốc nôn tháo, ói mửa liên hồi, rồi kẻ quái dị đó mới biến mất.
Trước năm 1949, mẹ tôi tốt nghiệp đại học, hồi chưa nghỉ hưu từng là nhân viên “Viện Nghiên cứu Khoa học cao cấp Trung Quốc”, bà làm việc tại Thôn Trung Quan, do bản thân là dân trí thức cấp cao lại có bề dày công tác mấy mươi năm tại Viện Khoa học, bà đâu bao giờ tiếp xúc với những gì được xếp loại là mê tín? Tất nhiên chẳng thể nào chấp nhận được các hiện tượng (bao gồm người và vật) thuộc lĩnh vực này, bà không bao giờ tin là có quỷ thần! Nhưng lần này, oái ăm thay! Chính bà lại đích thân diện kiến quỷ khi còn đang sống, lại không phải do ảo giác mà thấy, điều này khiến mẹ tôi dù không muốn, cũng phải tin!
Tôi hỏi: - Sao mẹ không nói sớm cho con biết? Mẹ không hiểu chuyện này rất nguy hiểm và đáng sợ hay sao? Điểm đáng sợ chính là, khi đó một chân mẹ đã bước vào quỷ môn quan rồi!
Tôi giải thích cho mẹ rõ: - Trong lục đạo, thì Nhân đạo, Súc đạo và Quỷ đạo… cả ba cõi này đồng sống trong một không gian. Cõi súc sinh chúng ta có thể nhìn thấy, nhưng cõi quỷ thuộc âm tính, vì vậy mà con người bình thường nhờ dương khí thịnh hơn nên những chúng sinh cõi quỷ không cách chi tiếp cận được, bởi vậy mà ta không thấy họ. Thế nhưng các oan gia trái chủ đã qua đời hiện đoạ trong Quỷ đạo luôn chực sẵn, đợi lúc con người bệnh nặng hoặc sắp chết, khí âm thịnh và dương suy, thì chúng lập tức đến tiếp cận để đòi nợ, hành hạ, báo thù… Vì vậy ngay giây phút mẹ nhìn thấy chúng sinh cõi Quỷ tức là một chân đã bước vào Quỷ môn quan rồi, nếu mẹ chịu báo sớm cho con hay mọi điều, thì con có thể làm Phật sự để giải cứu mẹ sớm hơn…
Mẹ nói: - Nhưng khoảng một tuần nay mẹ không còn thấy quỷ nữa (chính là bắt đầu từ hôm tôi tụng kinh hồi hướng công đức cho mẹ và oan gia trái chủ của bà thì ngay tối đó chúng quỷ đã biến mất hết, suốt cả tuần không đến quấy rầy nữa). Trọn cả nửa năm sau đó, tôi một bề tụng “kinh Kim Cang” hồi hướng cho song thân, tụng khoảng 100 bộ. Kể từ chủ nhật mùa hạ năm 2009 trở về sau, bệnh tim và chứng cao huyết áp của mẹ tôi đã chuyển tốt, mỗi ngày uống thuốc một lần, lượng thuốc cũng giảm đi phân nửa, ít hơn bình thường. Song thân tôi thuộc giới trí thức, họ tốt nghiệp đại học trước 1949, cùng là nhà khoa học ưu tú, công tác tại Viện Khoa học cao cấp nên thuyết phục họ tin Phật rất khó.
Tôi học Phật đã hơn hai mươi năm, một bề tuyên dương Phật pháp cho song thân hiểu, nhưng gia phụ một mực bán tin bán nghi, còn mẹ thì dứt khoát không tin. Nhưng kể từ lúc tôi tụng “kinh Kim Cang” cầu cho mẹ, chiêu được cảm ứng vi diệu, chính việc này đã khiến hai nhà khoa học gia cứng cỏi của tôi chấn động và cảm kích, lần này thì hai vị hoàn toàn tâm phục khẩu phục, bắt đầu tin Phật giáo và phát tâm niệm Phật cầu sinh Tây Phương.
Mẹ tôi năm nay 88 tuổi, hằng ngày, mỗi sáng, tối bà đều bỏ ra một tiếng đi tản bộ, vừa đi vừa niệm Phật, tinh thần và sức khoẻ sung mãn, so với nửa năm trước giống như là hai người khác nhau vậy. Gia phụ cũng 88 tuổi, hàng ngày ông kinh hành niệm Phật hơn hai tiếng. Tôi còn mua một máy niệm Phật, cho mở ở nhà suốt 24 giờ, hỗ trợ song thân nhiếp tâm mạnh thêm. Chuyện cảm ứng của tôi, nếu nhận xét theo khoa học vẫn hội đủ điều kiện để chứng minh: Rõ ràng là, suốt tuần lễ tôi tụng “kinh Kim Cang” cầu cho mẹ, tôi không hề thổ lộ điều này cho song thân hoặc bất kỳ ai biết, và ngay trong thời gian tụng kinh tôi cũng hoàn toàn không hay biết gì về chuyện bí ẩn của mẹ. Vì vậy khi mọi sự được hoá giải êm đẹp, chẳng thể kết luận rằng tất cả đều do tôi “tự kỷ ám thị” hoặc “ảo giác” tạo thành. Do vậy mà tôi hoàn toàn xác tín công đức “kinh Kim Cang” quả thực mầu nhiệm không thể nghĩ lường!
Nam Mô A Di Đà Phật.
(Trích Nhân quả giải theo Phật giáo - Dịch giả: Hạnh Đoan)

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Họ Chi (Hiện quả tùy lục).



Mùa Xuân năm Kỉ dậu đời Khang hi, học sinh họ Chi, quê Gia thiện, nói với người bạn họ Cố: Không hiểu sao mà đầu óc tôi cứ quay cuồng như có oan hồn theo sau, đến lúc ngã bệnh, Cố đến sư Tây liên hỏi chuyện, tự nhiên trong bụng có tiếng quỉ: Thời đầu nhà Minh ta là một phó tướng họ Hồng tên Châu, chủ tướng họ Dao, thấy người vợ họ Giang của ta quá xinh đẹp nên khởi tâm tham lam, hẹn đến chỗ kia làm phản, đem hơn bảy trăm tàn quân lệnh cho ta chinh phạt, một mình ta không chi viện nổi, cả đám quân lính bị giết hết, Dao bắt vợ ta, vợ ta bèn thắt cổ tự vẩn. Ghi nhớ mối thâm thù này nên mấy kiếp quyết trả cho được, nhưng lúc cùng đường Dao lại xuất gia tu hành, đời kế đó lại làm cao tăng, đời kế nữa làn Đại từ lâm, đời thứ ba là vị sư có giới hạnh, đời thứ tư là người giàu có, hay bố thí nên ta không trả thù được. Đời thứ năm này, đương lúc thắng trận liên tiếp trong hai năm Tuất và Dậu, năm trước lại vung dao giết hại bốn người trong quán trà, bị mất lộc, ta mới đến trả thù được. Nghe câu chuyện có đầu có cuối, sư Tây liên bèn khuyến hoá rồi hứa sẽ tụng kinh lễ sám để hoá giải mối oan đó. Nghe thế quỉ thưa vâng. Họ bèn thỉnh sư Tây liên làm lễ, bệnh của Chi lập tức thuyên giảm, sau mấy hôm, lại nghe nói tiếng quỉ: Nhờ sức che chở của Phật con đã được siêu sinh, không bao giờ báo oán nữa. Những người đến đòi mạng đó là bốn người bị giết ở quán trà, không phải con, chỉ sợ sư nghi bọn con không giữ lời nên đến thưa cho rõ. Nói xong bèn đi, lát sau bệnh Chi lại phát, chưa hết đêm đã mất.
Đức Phật dạy: Cho dù trải qua muôn nghìn đời kiếp thì những nghiệp báo của mình tạo vẫn không mất đi. Khi hội đủ nhân duyên sẽ chịu lại quả báo đó. Đền nợ hai ba trăm năm trước thế vẫn còn gần lắm.